Tánh nết

Tánh nết

Bản tánh con người, một phần là do nghiệp mà ta đã tạo từ quá khứ, lưu truyền từ kiếp trước và một phần là từ khi sanh ra do ta huân tập theo hoàn cảnh môi trường chung quanh, kết hợp lại gọi là tánh nết.

Tánh nết của con người cũng có nhiểu, nhưng nói tóm tắt chỉ có 6 tánh :

  1. Tánh nhiều ái dục
  2. Tánh nhiều sân hận
  3. Tánh nhiều si mê
  4. Tánh nhiều đức tin
  5. Tánh nhiều trí tuệ
  6. Tánh nhiều suy nghĩ

Tất cả nhân loại trong thế gian, mỗi người đều có đủ cả sáu tánh ấy, nhưng ít nhiều có khác nhau chút. Nếu người có một tánh nào nhiều hơn năm tánh khác, như có nhiều tánh ái dục thì gọi là người nhiều tánh ái dục,.v.v. Ví dụ như Tứ Đại (đất, nước, gió, lửa), trong một Đại cũng có đủ cả Tứ Đại, khác nhau là một Đại nào phần nhiều hơn, nước hoặc đất nhiều thì gọi Đại ấy là nước hoặc đất, thật ra trong nước vẫn có đất, trong nước vẫn có lửa, gió; rồi trong đất vẫn có nước, lửa, gió. Muốn biết con người, trong sáu tánh ấy thì phải xem xét cho kỹ trong cách : đi, đứng, ngồi, nằm, ăn nói và khi hành động, như :

1. Tánh Ái dục :

Đi, đứng ngay thẳng, chân bước đều đặn êm ái, dấu chân đi vung đất giữa bàn chân, ngồi phải cách (phong cách) đáng khen, dọn chỗ ngủ vén khéo, sạch sẽ, nằm thì tay chân để ngay thẳng rồi mới ngủ, khi thức chậm rãi, nói năng dịu ngọt, làm công việc sạch sẽ gọn gàng, mặc y phục đều đặn phải phép, hay ưa thích vật thực ngon ngọt và ăn uống vén khéo, nhai thiệt nhuyễn rồi mới nuốt, được cái gì chút ít mau vui mừng, ít hay nhớ lỗi người, đi đến đâu thường tiếc nơi ấy, hay giấu lỗi mình, hay khoe tặng mình, nhiều ái tình, nhiều tham dục, không tiết độ.

2. Tánh sân hận :

Người có tánh nóng giận nhiều, khi đi, ngón chân cái hay dũi đất, bước đi mau mắn, nặng sâu phía trước, tướng đi và cách ngồi không dịu dàng, dọn chỗ ngủ không vén khéo, làm việc chi không sạch sẽ. Khi ngủ nằm xuống mạnh và mặt mày hay nhăn nhó, lúc thức trỗi dậy lẹ làng, nói tiếng như nóng giận, làm công việc nặng tay và không vén khéo, mặc y phục hay chật hẹp, không đều đặn, hay dùng vật thực chua và không sạch, hay độn đồ ăn hai bên miệng, ăn mau nuốt và nhai không kỹ. Được vật không tốt hay bất bình, nhất là thấy sắc hoặc nghe tiếng chi không vừa lòng, làm như khó chịu lắm, không thể xem hoặc nghe lâu được, hay chấp lỗi người. Đi đến đâu không hay dính mắc chỗ ngụ. Hay nóng giận, thường nhớ sự này việc nọ để dành. Hay quên ơn người hằng trọng mình, ví mình như người cao sang, tâm hay uất ức bỏn sẻn.

3. Tánh si mê :

Người có tánh tối tăm lầm lạc nhiều, bước đi xình xàng, nặng gót, tướng đi cách ngồi không nghiêm chỉnh, dọn chỗ ngủ không thứ tự nằm ngủ nghênh ngang, hay nằm ngủ úp mặt, có ai gọi thức, thì hay kêu rên, chậm trỗi dậy. Làm công việc không chắc chắn, không kỹ càng sạch sẽ, mặc trang phục không thanh lịch, ưa thích vật thực không có chừng mực, ăn từng chút từng chút, hay làm rớt cơm vào đồ ăn, ăn hay lấm miệng. Khi ăn, tâm hay suy nghĩ việc kia sự nọ. Thấy sắc hoặc nghe tiếng,.v.v… Hay tùy người, nếu người nói cũng nói, người khen cũng khen theo (dạng ba phải), khi có một mình thì không hay chú ý đến việc gì, thường hay thối chí, biếng nhắc và buồn ngủ, tâm hay phóng túng, tức giận và hối hận, hay hoài nghi chấp đâu thì cố đó, khó dời bỏ.

4. Tánh đức tin

Người có tánh tin nhiều, cách đi đứng nằm ngồi, làm công việc ăn uống, ngó xem,.v.v. đều giống người có tánh ái dục. Nhưng người có tánh đức tin khác hơn người có tánh ái dục là hay tìm dịp bố thí, mong cầu được gặp bậc Thánh nhân, hằng tìm người Phật pháp, ham làm sự phước, không khoe mình, thích những việc nên thích.

5. Tánh Giác ngộ

Người có tánh giác nhiều, cách đi đứng ngồi nằm.v.v. đều giống với người có tánh sân, nhưng người có tánh giác nhiều, khác hơn người có tánh sân là hay làm lành lánh dữ, không quyến luyến theo hoàn cảnh, hay tìm xét lý Nhân Quả để hành theo cho đặng giải thoát. Người có tánh giác lại là người dễ dạy, hay tìm thân cận cùng bậc thiện tri thức, ăn ở có tiết độ, có tánh ghi nhớ, hay thức tỉnh, hằng tìm việc nên làm, hay dùng trí tuệ và tinh tấn tu hành.

6. Tánh tầm (nhiều suy tư)

Người có tánh tầm nhiều, cách đi đứng nằm ngồi.v.v. đều giống người có tánh si, nhưng người có tánh tầm, tâm hay thay đổi vì lo tính nhiều việc. Người có tánh tầm lại hay nói lời vô ích, không căn cứ, hay chơi đàn, ưa thích theo tình bầu bạn, ít chịu làm việc phước thiện, không hay quyết định, ban đêm thường toan tính nhiều việc, ban ngày hành sự nóng nảy như lửa cháy, làm việc không chừng đỗi, làm đây bỏ kia, làm kia bỏ đây.

Hỏi : Tại sao con người có tánh khác nhau như vậy ?

Đáp : Bởi kiếp trước đã quen tánh làm việc nào, rồi cái tánh ấy in dính theo, hoặc kiếp trước đã có làm một việc lành lớn lao, cái lành ấy có thắng lực lớn hơn, nên tạo thành thiện nghiệp in khắc vào tâm, đến khi theo cái nghiệp lành ấy đưa đi thọ sanh, cái dấu tích của pháp lành ấy cũng theo trong tâm Tục sinh, vì nguyên nhân ấy mà người trong thế gian mới có tánh nết khác nhau như vậy.

Thiền sư Tăng Định – 2007.